Phương châm hội thoại là gì? Ví dụ và phân tích phương châm hội thoại

Cùng CDCD Kon Tum tìm hiểu phương châm hội thoại là gì? sự cần thiết của việc nắm vững các phương châm hội thoại, ví dụ và phân tích các phương châm hội thoại,…

Nội dung

  • 1 Các phương châm hội thoại là gì?
    • 1.1 Định nghĩa phương châm hội thoại là gì?
    • 1.2 Đặc điểm của phương châm hội thoại
    • 1.3 Những trường hợp không tuân thủ phương châm hội thoại
  • 2 Những phương châm hội thoại chính
  • 3 Tại sao cần nắm vững các phương châm hội thoại?
  • 4 Ví dụ về các phương châm hội thoại
  • 5 Luyện tập phương châm hội thoại

Các phương châm hội thoại là gì?

Định nghĩa phương châm hội thoại là gì?

Phương châm hội thoại là các quy định, nguyên tắc bắt buộc mà người tham gia hội thoại cần làm theo và tuân thủ. Đáp ứng các yêu cầu này thì cuộc giao tiếp mới được xem là thành công.

Đặc điểm của phương châm hội thoại

Để giao tiếp, thuyết phục người khác nghe theo một chủ đề mà mình muốn thực hiện, các bạn cần chú ý một số đặc điểm sau:

  • Tính tham khảo: Thông tin tham khảo phải có tính chọn lọc, khái quát và trọng nhất về vấn đề đó. Không cần liệt kê toàn bộ những thông tin theo kiểu dàn trải.
  • Tính thời sự: Ta cần cho mọi người thấy được hiện trạng, vấn đề đặt ra là quan trọng, cấp thiết, cần được thực hiện ngay.
  • Tính phản biện: Sẽ có những ký kiến đồng tình hay phản bác về một vấn đề nào đó. Nhưng bạn phải biết cách chứng minh cho những người phản bác mình hiểu ý kiến đó không chính xác.
  • Tính đề xuất: Ta cần đưa ra những đề xuất, giải pháp, phương pháp để giải quyết vấn đề, giả thiết đặt ra trước đó. Tham luận thường có dẫn chứng cụ thể để thuyết phục những luận cứ, giải pháp này để thuyết phục người nghe.

Những trường hợp không tuân thủ phương châm hội thoại

Trong giao tiếp chúng ta vô tình sử dụng những từ ngữ, câu nói mà không tuân theo các phương châm hội thoại đã đề ra. Các lỗi có thể xảy ra và cần tránh ở đây là:

  • Người nói giao tiếp thiếu văn hóa, vụng về: Đôi khi chúng ta nói mà không suy nghĩ trước sẽ vô tình nói những câu không được tế nhị.
  • Khi nói phải chú trọng cho một phương châm hội thoại hoặc một yêu cầu khác quan trọng hơn. Khi có nhiều người cùng hỏi thì chúng ta cần ưu tiên trả lời cho câu hỏi nào quan trọng nhất.
  • Người nói muốn gây sự chú ý để người nghe hiểu câu nói theo một hàm ý nào đó.

Những phương châm hội thoại chính

Phương châm hội thoại chính được phân làm 5 loại. Bao gồm:

– Phương châm về lượng: Trong quá trình giao tiếp, câu cần có nội dung. Trong đó, nội dung của câu nói phải đáp ứng các yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thừa cũng không thiếu.

– Phương châm về chất: Trong quá trình giao tiếp, những thông tin chưa xác thực, chưa xác định được độ chính xác thì không nên nói chắc chắn.

– Phương châm quan hệ: Trong quá trình giao tiếp, cần tập chung vào chủ đề giao tiếp, tuyệt đối không nói lạc đề, lạc hướng.

– Phương châm cách thức: Trong quá trình giao tiếp, người nói cần chú ý đảm bảo sự mạch lạc của câu. Nên nói ngắn gọn, xúc tích, tránh nói dài, mơ hồ.

Xem thêm:  Tính chất hoá học của kim loại Kiềm thổ, hợp chấp của kiềm thổ và bài tập – hoá 12 bài 26

– Phương châm lịch sự: Trong quá trình giao tiếp, người giao tiếp cần thể hiện sự tôn trọng đối với người đối diện.

Thế nào là phương châm về lượng, phương châm về chấtThế nào là phương châm về lượng, phương châm về chất

 

Tại sao cần nắm vững các phương châm hội thoại?

Trong quá trình giao tiếp, cần nắm vững, hiểu rõ những phương châm hội thoại để thực hiện thành công, giúp người đối diện dễ hiểu. Tùy vào tình huống cụ thể, mà người nói có thể vận dụng các phương châm hội thoại này một cách linh hoạt và phù hợp hoàn cảnh.

Nguyên nhân gây nên tình trạng những phương châm hội thoại không được tuân thủ như:

– Người nói vụng về, thiếu khéo léo hay thiếu kinh nghiệm trong việc giao tiếp.

– Người nói chú ý đến phương châm hội thoại khác hoặc cần thực hiện mục tiêu khác quan trọng hơn.

– Người nói muốn tạo dựng sự chú ý, thu hút người nghe hiểu câu với hàm ý khác.

Ví dụ về các phương châm hội thoại

a. Phương châm về lượng

* Ngữ liệu 1

An: – Cậu có biết bơi không?

Ba: – Biết chứ, thậm chí còn bơi giỏi nữa

An: – Cậu học bơi ở đâu vậy ?

Ba: – Dĩ nhiên là học bơi ở dưới nước chứ còn ở đâu.

– Phân tích ngữ liệu:

(1) An hỏi Ba học bơi ở đâu mục đích muốn biết An học bơi ở chỗ nào (sông, hồ, bể bơi cụ thể nào đó…), tức nơi mà Ba học bơi.

(2) Câu trả lời của An không đánh trúng ý muốn mục đích Ba hỏi vì đương nhiên ai cũng biết học bơi thì phải học dưới nước chứ không thể nào học được trên bờ. Cách trả lời của An thừa, không cần thiết

–  Nhận xét:

+ An vi phạm phương châm về lượng ( tức nói bị thừa thông tin không cần thiết

* Ngữ liệu 2

Mẹ : 

– Cô giáo cho con bài tập trong sách bài tập nào thế?

Nam: 

– Cô giáo con cho làm bài tập trong sách bài tập ạ!

– Phân tích ngữ liệu

(1)

Mẹ hỏi với mục đích muốn biết con được làm bài tập trong sách bài tập nào ( tên sách bài tập cụ thể) , Trong khi người con không trả lời cụ thể tên sách. Việc trả lời trên chưa đáp ứng được mục đích hỏi của mẹ

=> Nam cũng vi phạm phương châm về lượng ( trả lời thiếu nội dung thông tin)

* Nhận xét

– Phương châm về lượng là cách nói đủ thông tin , không thừa không thiếu.

– Trong giao tiếp, cần nói cho có nội dung; nội dung của lời nói phải đáp ứng được đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thừa, không thiếu.

b. Phương châm về chất

* Xét ngữ liệu và phân tích

* Ngữ liệu 1

QUẢ BÍ KHỔNG LỒ

Hai chàng đi qua một khu vườn trồng bí. Một anh thấy một quả bí to, kêu lên:

– Chà ! Quả bí kia to thật!

Anh bạn có tính hay nói khoác, cười mà bảo rằng:

– Thế thì đã lấy làm gì to. Tôi đã từng thấy những quả bí to hơn nhiều. Có một lần, tôi tận mắt trông thấy một quả bí to bằng cả cái nhà đằng kia kìa.

Anh kia nói ngay:

– Thế thì đã lấy gì làm lạ. Tôi còn nhớ, một bận tôi trông thấy một cái nồi đồng to bằng cả cái đình làng ta.

Xem thêm:  Đoạn văn Phân tích hình tượng vua Quang Trung trong Hoàng Lê nhất thống chí

Anh nói khoác ngạc nhiên hỏi:

– Cái nồi ấy dùng để làm gì mà to vậy ?

Anh kia giải thích:

– Cái nồi ấy dùng để luộc quả bí anh vừa nói ấy mà.

Anh nói khoác biết bạn chế nhạo mình bèn nói sang chuyện khác

                                                            ( Theo Truyện cười dân gian Việt Nam)

(1) Tại sao câu chuyện trên lại gây cười? Thông tin mà hai anh nói: “quả bí to bằng cả cái nhà và cái nồi đồng to bằng cả cái đình làng” được cho là vô lí, thiếu tính xác thực.

=>phê phán tính ba hoa, nói khoác

* Nhận xét

– Phương châm về chất là khi giao tiếp đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác thực.

Luyện tập phương châm hội thoại

1. Phương châm hội thoại nào đã không được tuân thủ trong các trường hợp sau?

a) Việc này là tuyệt mật nhất đấy!

b) Hôm nay là ngày sinh nhật của mẹ tôi.

c) Cửa hàng này bán nhiều hải sản biển ngon lắm.

d) – Bạn là học sinh trường nào?

-Tớ là học sinh trường trung học cơ sở.

2. Đọc truyện cười sau và cho biết câu nói được in đậm đã vi phạm phương châm hội thoại nào. Vì sao người nói lại vi phạm phương châm đó?

Trứng vịt muối

Hai anh em nhà nọ vào quán ăn cơm. Nhà quán dọn cơm trứng vịt muối cho ăn. Người em hỏi anh:

– Cùng là trứng vịt mà sao quả này lại mặn nhỉ?

– Chú hỏi thế người ta cười cho đấy. – Người anh bảo. – Quả trứng vịt muối mà cũng không biết.

– Thế trứng vịt muối ở đáu ra?

Người anh ra vẻ thông thạo, bảo:

– Chú mày kém thật! Có thế mà cũng không biết. Con vịt muối thì nó đẻ ra trứng vịt muối chứ sao.

(Theo Truyện cười dân gian Việt Nam)

3. Đọc truyện cười sau và trả lời các câu hỏi:

Ai tìm ra châu Mĩ?

Trong giờ học Địa lí, thầy giáo gọi Hà lên bảng chỉ bản đổ:

– Em hãy chỉ đâu là châu Mĩ.

– Thưa thầy đây ạ! – Hà chỉ trên bản đồ.

-Tốt lắm! Thê bây giờ trò Bi hãy nói cho thầy biết ai đã có công tìm ra châu Mĩ?

– Thưa thầy, bạn Hà ạ!

(Sưu tầm)

a) Trong truyện cười trên, phương châm hội thoại nào đã bị vi phạm?

b) Nếu tuân thủ phương châm hội thoại thì trò Bi phải trả lời thầy giáo như thế nào? Hãy viết lại câu trả lời đó.

c) Tìm một câu thành ngữ để nhận xét về trường hợp hội thoại trên.

4. Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi ở dưới.

Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy. Lúc lão ra về, tôi còn hỏi:

– Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn?

Lão cười nhạt bảo:

– Được ạ! Tôi đã liệu đâu vào đấy… Thế nào rồi cũng xong.

(Nam Cao)

a) Câu nói Thế nào rồi cũng xong của lão Hạc đã vi phạm phương châm hội thoại nào?

b) Vì sao lão Hạc lại vi phạm phương châm đó?

c) Nhận xét về cách nói đó của lão Hạc bằng một çâu thành ngữ.

Xem thêm:  Hình xăm Samurai mặt quỷ đẹp nhất

5. Tìm một số câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao có nội dung liên quan đến phương châm lịch sự trong giao tiếp.

6. Xây dựng một đoạn hội thoại giữa một bạn HS và một người cao tuổi trong đó có tuân thủ các phương châm hội thoại.,

Gợi ý

1. Các trường hợp nêu trong đề bài đều vi phạm phương châm về lượng do sử dụng các từ ngữ trùng lặp, gây thừa thông tín (câu a, b, c) hoặc thiếu thông tin (câu d).

a) Thừa từ nhất vì từ tuyệt mật đã hàm chứa ý nhất, tuyệt đối.

b) Thừa từ ngày vì từ sinh nhật có nghĩa là ngày sinh.

c) Thừa từ biển vì từ hải sản có nghĩa là các sản vật lấy từ biển.

d) Câu trả lời thiếu thông tin: tên một trường trung học cơ sở cụ thể.

2. Vận dụng kiến thức về các phương châm hội thoại để xác định phương châm hội thoại đã bị vi phạm. Câu nói của người anh đã không tuân thủ phương châm về chất. Do thiếu hiểu biết nên người anh đã trả lời như vậy và chính vì thế mà truyện gây cười.

3. a) Truyện cười Ai tìm ra châu Mĩ? đã vi phạm phương châm quan hệ trong hội thoại. Câu hỏi của thầy giáo đã được trò Bi hiểu theo một hướng hoàn toàn khác (thầy hỏi ai là người tìm ra châu Mĩ trong lịch sử địa lí thế giới; trò trả lời về người tìm và chỉ ra châu Mĩ trên bản đồ trong giờ học Địa lí).

b) Nếu tuân thủ phương châm hội thoại, trò Bi phải trả lời thầy giáo như sau:

Thưa thầy, Cô-lôm-bô là người đã có công tìm ra châu Mĩ ạ.

c) Gâu thành ngữ nói về trường hợp vi phạm phương châm quan hệ như trong truyện: ông nói gà, bà nói vịt.

4. a) Câu nói của lão Hạc đã vi phạm phương châm cách thức.

b) Đây là trường hợp người nói cố tình vi phạm phương châm hội thoại bởi lão Hạc nói vậy chỉ cốt làm yên lòng ông giáo chứ không nêu rõ ràng, chính xác ý định, việc làm của lão cho ông giáo biết.

c) Nhận xét về cách nói của lão Hạc trong trường hợp này bằng một thành ngữ: nửa kín nửa hở..:

5. Ví dụ:

– Lời nói chẳng mất tiền mua,

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

(Ca dao)

– Lời chào cao hơn mâm cỗ.

(Tục ngữ)

6. Bài tập này yêu cầu vận dụng tổng hợp kiến thức về phương châm hội thoại. Nhân vật tham gia cuộc thoại là một bạn HS và một cụ già. Cần xác định nội dung, tình huống hội thoại và chú ý xây dựruĩ lời thoại tuân thủ các phương châm hội thoại theo yêu cầu của đề bài.

Qua bài viết ở trên, CDCD Kon Tum đã giúp các bạn hiểu rõ phương châm hội thoại là gì? tại sao cần nắm vững phương châm hội thoại, lấy ví dụ và phân tích các phương châm hội thoại,… Các bạn có thể truy cập website CDCD Kon Tum để tìm hiểu những bài viết hữu ích, phục vụ cho quá trình học tập và thi cử.

Đăng bởi: CDCD Kon Tum

Chuyên mục: Giáo Dục

bài viết liên quan

hỏi đáp

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

mạng xã hội

spot_img

bài viết